ringier home icon

Xử lý nghiêm ngặt nếu ký hợp đồng mua bán đất ghi giá thấp hơn thực tế

Cách xử lý hợp đồng mua bán đất ghi giá thấp hơn thực tế

Nhiều người mua bán nhà đất cố tình làm hợp đồng công chứng với giá thấp hơn so với hợp đồng giao dịch thực tế. Đây là sự thỏa thuận dễ dẫn đến rủi ro pháp lý, đặc biệt là người mua phải chịu nhiều rủi ro.

Để giảm bớt tiền thuế thu nhập cá nhân cho người bán và người mua được người bán giảm tiền phải trả, hai bên đã thoả thuận ghi giá bán trong hợp đồng thấp hơn giá trị giao dịch thực tế. Việc làm nêu trên được nhiều người trong giới bất động sản xem là thỏa thuận để đôi bên cùng có lợi.

Nếu bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện hợp đồng công chứng có bị vô hiệu không? Người mua sẽ phải chịu những rủi ro gì?

Theo nội dung quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 về giao dịch dân sự vô hiệu do yếu tố giả tạo: Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan. Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba, giao dịch dân sự đó vô hiệu.

Hành vi che giấu hợp đồng thực tế và trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế đối với bên thứ ba là nhà nước là hành vi vi phạm pháp luật về thuế. Vì vậy, cho dù hợp đồng đã được công chứng vẫn bị vô hiệu do giả tạo và tuỳ vào mức độ vi phạm mà hai bên bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Dựa vào điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

* Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

Theo đó, người mua phải trả lại bất động sản đã mua, còn người bán phải trả lại tiền đã giao dịch. Tuy nhiên, dựa theo hợp đồng, người bán chỉ trả lại số tiền đã nhận bằng với số tiền ghi trong hợp đồng công chứng (số tiền này thấp hơn số tiền thực tế mà người mua đã trả). Điều này người mua cũng phải chấp nhận vì trên giấy tờ đã nêu rõ số tiền, và họ cũng không có bằng chứng để chứng minh mình đã đưa tiền cho người bán nhiều hơn như vậy.

Trường hợp, nếu bạn không muốn trả lại bất động sản đã mua, bạn và người bán sau có thể thỏa thuận làm lại hợp đồng giao dịch mới và công chứng, thực hiện thủ tục chuyển nhượng đất theo quy định pháp luật.

Về phía người bán, khi nào họ bị truy tội hình sự?

Dựa theo điều 200 bộ luật Hình sự năm 2015, tùy vào số tiền trốn thuế hình phạt cao nhất là 7 năm tù. Theo đó, quy định tội trốn thuế áp dụng đối với người nào trốn thuế số tiền từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng, hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế, hoặc đã bị kết án về tội này… chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. 

Từ ngày 1/7/2020, Luật Quản lý thuế sẽ có hiệu lực thi hành, quy định chi tiết hơn các hành vi vi phạm tội trốn thuế. 

Theo đó, khoản 5 Điều 143 Luật Quản lý thuế quy định hành vi trốn thuế như sau: “Sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế không phải nộp”.

Như vậy, việc lập hợp đồng mua bán bất động sản (hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng, văn bản thỏa thuận…) với số tiền khác nhau, sau đó sử dụng hợp đồng giá thấp để khai thuế, mà bị cơ quan nhà nước phát hiện, có chứng cứ xác định hợp đồng đó không trung thực thì trường hợp này được xem là tài liệu không hợp pháp.

Theo
Lan Chi Nguyễn Ngọc
Notification Bell